Hotline: 0962.893.900
CÔNG TY LUẬT TNHH HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP (HILAP LAWFIRM)
DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP – TẬN TÂM * CHUYÊN NGHIỆP * UY TÍN
HOTLINE: 0962.893.900 - 0912.762.891

Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm về vấn đề loại trừ trách nhiệm bảo hiểm con người

(Số lần đọc 8)
Theo quan điểm của nhóm các quy định hiện nay về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với bảo hiểm con người còn khá lỏng lẻo và chưa bắt kịp những đòi hỏi cũng như tình hình thực tế.
Đầu tiên là quy định tại khoản 3, Điều 16, Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành:

“[…]3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;

b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện được bảo hiểm”.

Đây là trường hợp pháp luật quy định cho các doanh nghiệp bảo hiểm không được phép áp dụng biện pháp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để trốn tránh nghĩa vụ của mình, có nghĩa là, trong 2 trường hợp tại khoản a và khoản b, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Nhưng pháp luật là không quy định rằng: kể cả người được bảo hiểm và người thu hưởng có hành vi vi phạm pháp luật do vô ý cũng là trường hợp không được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Như vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn có thể quy định trong hợp đồng mẫu rằng: doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền nếu người được bảo hiểm hay người thụ hưởng vi phạm pháp luật do vô ý (nội dung này không trái pháp luật, được phép tự do thỏa thuận). Nếu vậy, quyền lợi chính đáng của người được bảo hiểm và người thụ hưởng sẽ bị tước đoạt, bởi đáng lẽ khi người được bảo hiểm hay người thụ hưởng vi phạm pháp luật do vô ý thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm, không được chối bỏ. Một trong những đặc thù của bảo hiểm con người: người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng có thể không phải là một.

Đối với điểm b Điều khoản này. Người thông báo không chỉ có người mua mà còn thể là hai đối tượng kia, thậm chí quyền lợi đối với hợp đồng bảo hiểm của người được bảo hiểm và người thụ hưởng còn lớn hơn người mua bảo hiểm (nếu những người trên không phải là một)

* Đề xuất: mở rộng phạm vi đối tượng đối với khoản 3, Điều 16, không chỉ có người mua bảo hiểm như hiện nay.

- Quy định tại khoản 1, Điều 39, Luật kinh doanh bảo hiểm

“ a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 2 (hai) năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng tiếp tục có hiệu lực;

b) Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;

c) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.”

Đây là quy định riêng cho các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với  bảo hiểm con người, có một số vấn đề sau:

+ Về điểm a, pháp luật đã dự trù ra một khoảng thời gian là 2 năm để tránh các trường hợp có ý định tự tử mà ký kết hợp đồng bảo hiểm nhằm trục lợi, khoảng thời gian này có ý nghĩa đối với tâm lý người mua bảo hiểm có ý định tự tử để người này bỏ ý định đó sau khi có thời gian suy xét, song đặt trong môi trường hiện đại đầy áp lực hiện nay, tỉ lệ tự tử ngày càng gia tăng, liệu pháp luật có dự tính cho việc khoản tiền bảo hiểm sẽ là một trong những yếu tố tác động đến tâm lý người mua dù là nhiều năm sau đó?

* Đề xuất: Loại bỏ quy định trên như loại bỏ một trong nhưng yếu tố góp phần vào tỉ lệ tự tử ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng đến cơ cấu dân số quốc gia.

+ Về điểm b, đối với bảo hiểm con người, với đối tượng hướng đến là tính mạng, sức khỏe con người. Hiện nay xuất hiện rất nhiều các loại hình bảo hiểm con người, trong đó có những loải bảo hiểm chỉ bảo hiểm cho một phần sức khỏe mà thôi, như vậy, nếu chỉ những xâm hại gây ra thương tật toàn bộ và vĩnh viễn mới được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là không hợp lý.

* Đề xuất: bổ sung thêm các hành vi do lỗi cố ý của bên mua và người thụ hưởng dẫn đến thương tật một phần nhưng là toàn bộ phần sức khỏe được bảo hiểm.

+ Về điểm c, với nội dung tinh thần của quy định là: đối với những người được bảo hiểm có hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội bi kết án với mức hình phạt nghiêm khắc nhất sẽ không xứng đáng nhận được tiền bảo hiểm, đây vừa là vấn đề đạo đức lối sống vừa là biện pháp phòng tránh hành vi vì trục lợi bảo hiểm mà thực hiện các tội phạm nghiêm trọng. Cũng với tinh thân ấy, nhưng với rất nhiều các hành vi khác cũng có tính chất nguy hiểm tương đương như: chống lại người thi hành công vụ và bị trấn áp bằng cách bị tước đi tính mạng (trong tình thế cấp thiết) hay người có hành vi tấn công người khác và bị chết do người bị hại phòng vệ chính đáng … tất cả những trường hợp đó đều phù hợp với tinh thần của điểm c, Khoản 1, Điều 39.

* Đề xuất: bổ sung một số đối tượng thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội khác mà do thực hiện các tội phạm mà bị chết hoặc tổn hại sức khỏe vào trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

- Ngoài ra, theo xu hướng của một số quốc gia phát triển trên thế giới, pháp luật bảo hiểm cũng nên được liệt kê thêm một số trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm con người khác như trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra vì các  tác nhân khách quan như: Chiến tranh (dù có được tuyên bố tình trạng chiến tranh hay không); các thiên tai (động đất, sóng thần, núi lửa…), các dịch bệnh quy mô lớn và không có biện pháp phòng ngừa nào kịp thời … Bởi bạn thân các lý do ngoại cảnh này đều không mong muốn, khó dự báo và gây ra các sự kiện bảo hiểm hàng loạt nằm ngoài khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo Đầu tiên là quy định tại khoản 3, Điều 16, Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành:

“[…]3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;

b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện được bảo hiểm”.

Đây là trường hợp pháp luật quy định cho các doanh nghiệp bảo hiểm không được phép áp dụng biện pháp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để trốn tránh nghĩa vụ của mình, có nghĩa là, trong 2 trường hợp tại khoản a và khoản b, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Nhưng pháp luật là không quy định rằng: kể cả người được bảo hiểm và người thu hưởng có hành vi vi phạm pháp luật do vô ý cũng là trường hợp không được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Như vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn có thể quy định trong hợp đồng mẫu rằng: doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền nếu người được bảo hiểm hay người thụ hưởng vi phạm pháp luật do vô ý (nội dung này không trái pháp luật, được phép tự do thỏa thuận). Nếu vậy, quyền lợi chính đáng của người được bảo hiểm và người thụ hưởng sẽ bị tước đoạt, bởi đáng lẽ khi người được bảo hiểm hay người thụ hưởng vi phạm pháp luật do vô ý thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm, không được chối bỏ. Một trong những đặc thù của bảo hiểm con người: người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng có thể không phải là một.

Đối với điểm b Điều khoản này. Người thông báo không chỉ có người mua mà còn thể là hai đối tượng kia, thậm chí quyền lợi đối với hợp đồng bảo hiểm của người được bảo hiểm và người thụ hưởng còn lớn hơn người mua bảo hiểm (nếu những người trên không phải là một)

* Đề xuất: mở rộng phạm vi đối tượng đối với khoản 3, Điều 16, không chỉ có người mua bảo hiểm như hiện nay.

- Quy định tại khoản 1, Điều 39, Luật kinh doanh bảo hiểm

“ a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 2 (hai) năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng tiếp tục có hiệu lực;

b) Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;

c) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.”

Đây là quy định riêng cho các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với  bảo hiểm con người, có một số vấn đề sau:

+ Về điểm a, pháp luật đã dự trù ra một khoảng thời gian là 2 năm để tránh các trường hợp có ý định tự tử mà ký kết hợp đồng bảo hiểm nhằm trục lợi, khoảng thời gian này có ý nghĩa đối với tâm lý người mua bảo hiểm có ý định tự tử để người này bỏ ý định đó sau khi có thời gian suy xét, song đặt trong môi trường hiện đại đầy áp lực hiện nay, tỉ lệ tự tử ngày càng gia tăng, liệu pháp luật có dự tính cho việc khoản tiền bảo hiểm sẽ là một trong những yếu tố tác động đến tâm lý người mua dù là nhiều năm sau đó?

* Đề xuất: Loại bỏ quy định trên như loại bỏ một trong nhưng yếu tố góp phần vào tỉ lệ tự tử ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng đến cơ cấu dân số quốc gia.

+ Về điểm b, đối với bảo hiểm con người, với đối tượng hướng đến là tính mạng, sức khỏe con người. Hiện nay xuất hiện rất nhiều các loại hình bảo hiểm con người, trong đó có những loải bảo hiểm chỉ bảo hiểm cho một phần sức khỏe mà thôi, như vậy, nếu chỉ những xâm hại gây ra thương tật toàn bộ và vĩnh viễn mới được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là không hợp lý.

* Đề xuất: bổ sung thêm các hành vi do lỗi cố ý của bên mua và người thụ hưởng dẫn đến thương tật một phần nhưng là toàn bộ phần sức khỏe được bảo hiểm.

+ Về điểm c, với nội dung tinh thần của quy định là: đối với những người được bảo hiểm có hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội bi kết án với mức hình phạt nghiêm khắc nhất sẽ không xứng đáng nhận được tiền bảo hiểm, đây vừa là vấn đề đạo đức lối sống vừa là biện pháp phòng tránh hành vi vì trục lợi bảo hiểm mà thực hiện các tội phạm nghiêm trọng. Cũng với tinh thân ấy, nhưng với rất nhiều các hành vi khác cũng có tính chất nguy hiểm tương đương như: chống lại người thi hành công vụ và bị trấn áp bằng cách bị tước đi tính mạng (trong tình thế cấp thiết) hay người có hành vi tấn công người khác và bị chết do người bị hại phòng vệ chính đáng … tất cả những trường hợp đó đều phù hợp với tinh thần của điểm c, Khoản 1, Điều 39.

* Đề xuất: bổ sung một số đối tượng thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội khác mà do thực hiện các tội phạm mà bị chết hoặc tổn hại sức khỏe vào trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

- Ngoài ra, theo xu hướng của một số quốc gia phát triển trên thế giới, pháp luật bảo hiểm cũng nên được liệt kê thêm một số trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm con người khác như trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra vì các  tác nhân khách quan như: Chiến tranh (dù có được tuyên bố tình trạng chiến tranh hay không); các thiên tai (động đất, sóng thần, núi lửa…), các dịch bệnh quy mô lớn và không có biện pháp phòng ngừa nào kịp thời … Bởi bạn thân các lý do ngoại cảnh này đều không mong muốn, khó dự báo và gây ra các sự kiện bảo hiểm hàng loạt nằm ngoài khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm.

bh 2.png

Công ty Luật TNHH Hồng Thái và đồng nghiệp xin hân hạnh được mang đến cho quý khách hàng những dịch vụ tư vấn tốt nhất về các lĩnh vực như:

Tư vấn pháp luật dân sự, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến các giao dịch dân sự;
 
+   Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến các giao dịch và nghĩa vụ dân sự như: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, bảo lãnh…;
 
+   Tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến hợp đồng mua bán, tặng, cho, vay mượn tài sản;
 
+   Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến hợp đồng thuê, thuê khoán tài sản và các quy định pháp luật liên quan;
 
+   Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng gia công, hợp đồng bảo hiểm và các quy định pháp luật liên quan;
 
+   Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền và các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề ủy quyền.
 
+   Tư vấn, soạn thảo và rà soát lại các văn bản liên quan đến thừa kế như: tư vấn, hỗ trợ pháp lý về thừa kế cho người để lại thừa kế, người thừa kế; soạn thảo di chúc và các văn bản khác; tư vấn, hỗ trợ pháp lý các vấn đề thừa kế khác có liên quan;
 
+   Tư vấn, hỗ trợ pháp lý liên quan đến các quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài.
Xin vui lòng liên hệ: 097 693 3335 để công ty chúng tôi có thể tư vấn cho quý khách.


Trân trọng!
*M.Ng*

Mời bạn đánh giá bài viết này!
Đặt câu hỏi
Báo giá vụ việc
Đặt lịch hẹn
Có thể bạn quan tâm?
Thay đổi thông tin cổ đông do cổ đông sáng lập không góp đủ vốn trong vòng 90 ngày
06:31 | 17/09/2021
Quy trình, thủ tục họp đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020
06:22 | 11/08/2021
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết. Các q uyết định về vấn đề của công ty đều thông qua họp đại hội đồng cổ đông. Vậy q uy trình, thủ tục họp đại hội đồng cổ đông như thế nào? Hãy cùng Luật Hilap tìm...
Quản lý thực phẩm chức năng sản xuất trong nước- quy định và thực tiễn
03:15 | 09/08/2021
Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:24 | 31/07/2021
Căn cứ Chương V Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ đối tượng, điều kiện hỗ trợ; mức hỗ trợ và phương thức chi trả; hồ sơ đề nghị; trình tự, thủ tục thực hiện.
Chính sách hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:26 | 31/07/2021
Căn cứ Chương VI Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ đối tượng, điều kiện hỗ trợ; mức hỗ trợ và phương thức chi trả; hồ sơ đề nghị; trình tự, thủ tục thực hiện.
Chính sách hỗ trợ bổ sung và trẻ em theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:29 | 31/07/2021
Căn cứ Chương VII Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ đối tượng, điều kiện hỗ trợ; mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ.
Những điều cần biết về Nghị quyết 68/2021/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19
04:00 | 02/08/2021
Từ năm 2020 đến nay khi đại dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện ở nước ta đã và đang tác động tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Đặc biệt là lượng lớn người lao động phải đối mặt với việc mất việc làm và người sử dụng lao động cũng phải đối mặc việc...
Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:22 | 31/07/2021
Căn cứ Chương IV Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ đối tượng, điều kiện hỗ trợ; mức hỗ trợ và phương thức chi trả; hồ sơ đề nghị; trình tự, thủ tục thực hiện.
Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:18 | 31/07/2021
Căn cứ Chương X Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ các nội dung sau:
Chính sách hỗ kinh doanh theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg
01:15 | 31/07/2021
Căn cứ Chương IX Quyết định 23/2021/QĐ-TTg thì quy định rõ các nội dung sau:
Tìm kiếm
VD: đơn ly hôn ly hôn đơn phương tư vấn luật tư vấn pháp luật đơn khởi kiện công ty luật luật sư tư vấn
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP
Trụ sở chính: 38-LK9, Tổng Cục 5, Tân Triều, Hà Nội (Cuối đường Chiến Thắng)
Địa chỉ chi nhánh: Số 26 Đoàn Thị Liên, phường Phú Lợi, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
PNV – Địa chỉ: VP6 Linh Đàm, Phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
Email: luathongthai38@gmail.com/phongdoanhnghiep.hilap@gmail.com
Hotline: 0962.893.900 / 0912.762.891
Đơn vị liên kết:
- Viện Kinh tế Công nghệ Việt nam
- Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Xuất Nhập khẩu HILAP
Tin nhiều người đọc
[Luật Hồng Thái] Dịch vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp năm 2021
Thay đổi trưởng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam - thủ tục 2021
Những chính sách mới về quyền của người lao động theo Bộ luật lao động 2019
Chỉ dẫn địa lý – Thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý
CÔNG BỐ MỸ PHẨM NHẬP KHẨU VỀ VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Thủ tục để chuyển đổi loại hình từ công ty TNHH một thành viên sang công ty cổ phần
TÁC PHẨM PHÁI SINH TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐIỀU KIỆN, THỦ TỤC ĐỂ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ
Thư tư vấn thủ tục thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên kinh doanh dịch vụ kế toán
Luật Doanh nghiệp 2020

Thống kê truy cập
Đang online : 626   Đã truy cập : 1,164,336
Điều kiện sử dụng thông tin | Bảo mật khách hàng
Copyright © HONG THAI INTERNATIONAL LAWFIRM AND PARTNERS 2014 - 2016. All rights reserved
Design and support by THANHNAM SOFTWARE