-Pháp luật có những quy định cụ thể cụ thể về điều kiện đăng ký kết hôn, song song với đó là những quy định, căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật. Cụ thể:
-Căn cứ pháp lý:
+Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
+Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13;
Về điều kiện kết hôn:
Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn:
Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
+ Việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định;
+ Cả hai không bị mất năng lực hành vi dân sự;
+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn:
-Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
-Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
-Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
-Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
-Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Từ các quy định về điều kiện kết hôn trên, pháp luật cũng quy định về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP)
Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:
- “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.
Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.
Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997, đến ngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10-01-2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực (ngày 01-01-2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tạiđiểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
-“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.
- “Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.
-“Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.
- Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn” quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Ví dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm đương sự biết mình bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng.
Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A. Đến ngày 15-01-2010, chị B lại kết hôn với anh C. Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A chết. Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị B và anh C. Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án tuyên bố anh A đã chết để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn. Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Tư vấn pháp luật miễn phí 19006248
CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ HỒNG THÁI VÀ ĐỒNG NGHIỆP TRÂN TRỌNG!
Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý khách vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Quốc tế Hồng Thái và Đồng Nghiệp qua Tổng đài tư vấn pháp luật
19006248 hoặc E-mail: luathongthai@gmail.com để được
Tư vấn pháp luật miễn phíTrụ sở chính:
LK9-38 Tổng cục 5, Tân Triều, Hà Nội (cuối đường Chiến Thắng, Thanh Xuân)
Có thể bạn quan tâm:
Luật Thương mại điện tử 2025: Chủ Shop Shopee, TikTok Shop cần làm gì để tránh "án phạt" từ tháng 07/2026?
10:18 | 15/07/2026
Từ ngày 01/7/2026 , Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động kinh doanh trên môi trường số. Theo đó, cá nhân, hộ kinh doanh và doanh...
|
KÊ KHAI VỐN ĐIỀU LỆ KHI THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP NHƯ THẾ NÀO LÀ HỢP LÝ
08:27 | 17/10/2025
l QUY ĐỊNH
VỀ VỐN ĐIỀU LỆ HIỆN NAY
|
Giải thể Công ty TNHH hai thành viên trở lên năm 2026: Điều kiện, hồ sơ và những lưu ý doanh nghiệp cần biết
08:41 | 18/07/2026
Trong quá trình hoạt động, không ít doanh
nghiệp lựa chọn giải thể do thay đổi chiến lược kinh doanh, tái cơ cấu hoặc
không còn nhu cầu tiếp tục hoạt động. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hồ sơ giải
thể bị kéo dài do doanh nghiệp chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế, chưa xử lý dứt điểm
các khoản nợ...
|
Không góp đủ vốn điều lệ đúng thời hạn có bị xử phạt không? Mức phạt mới nhất
01:49 | 19/07/2026
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ,
thành viên hoặc cổ đông phải thực hiện góp đủ vốn điều lệ theo đúng cam kết.
Tuy nhiên, trên thực tế không ít doanh nghiệp chậm góp vốn, góp không đủ vốn hoặc
không thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định.
Vậy không...
|
Hồ sơ thành lập công ty cổ phần năm 2026: Chuẩn bị đúng ngay từ đầu để tránh bị trả hồ sơ và phát sinh rủi ro pháp lý
01:57 | 19/07/2026
Nhiều
người cho rằng thành lập công ty cổ phần chỉ cần chuẩn bị vài giấy tờ và nộp
lên cơ quan đăng ký kinh doanh là hoàn tất. Tuy nhiên, trong thực tế tư vấn
doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy phần lớn hồ sơ bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung
không phải vì thiếu giấy tờ mà do thông tin kê khai...
|
Mức phạt doanh nghiệp không đăng ký nội quy lao động từ ngày 10/9/2026: Chủ doanh nghiệp cần lưu ý gì?
08:25 | 21/07/2026
Nhiều doanh nghiệp
cho rằng chỉ cần ban hành nội quy lao động để áp dụng trong nội bộ là đủ. Tuy
nhiên, đối với những doanh nghiệp thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải đăng
ký nội quy lao động, việc không thực hiện đúng thủ tục có thể dẫn đến xử phạt
vi phạm hành chính và ảnh hưởng trực...
|
Dịch Vụ Tư Vấn Doanh Nghiệp: Giải Pháp Soạn Thảo Hợp Đồng Chặt Chẽ, Chuẩn Pháp Lý
04:26 | 13/03/2026
|
HƯỚNG DẪN THANH LÝ TÀI SẢN KHI GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
09:08 | 30/07/2025
Khi
tiến hành giải thể, doanh nghiệp cần thực hiện thủ tục thanh lý tài sản. Đây là
bước quan trọng nhằm xác định và xử lý toàn bộ giá trị tài sản còn lại, đảm bảo
việc thanh toán nghĩa vụ tài chính và phân chia tài sản đúng quy định. Theo
Luật Doanh nghiệp hiện hành và các quy định pháp luật...
|
Người đứng tên hộ có bị truy cứu trách nhiệm pháp lý khi công ty vi phạm pháp luật không?
09:00 | 29/07/2025
Trong những năm gần đây, tình trạng
cá nhân “đứng tên hộ” trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp ngày càng phổ biến tại
Việt Nam. Đây là hiện tượng một người đứng tên trên giấy phép kinh doanh, góp vốn,
thậm chí đảm nhận vị trí giám đốc, người đại diện theo pháp luật… nhưng thực tế
lại không sở hữu...
|
Các khoản chi được trừ và không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ ngày 1/10/2025
03:17 | 25/07/2025
Ngày 14/6/2025, Quốc hội thông qua Luật
Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 (Luật số 67/2025/QH15), trong đó có quy định
mới về những khoản chi được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp từ ngày
1/10/2025. Để giúp các doanh nghiệp tránh gặp phải những sai sót trong quá
trình tính thuế, bài...
|